Logo trang chủ
  • Văn bản
  • Tin tức
  • Chính sách
  • Biểu mẫu
Logo trang chủ
  • Trang chủ
  • Văn bản
  • Pháp luật
ĐĂNG NHẬP
Quên mật khẩu?
Google Facebook

Bạn chưa có tài khoản? Hãy Đăng ký

Đăng ký tài khoản
Google Facebook

Bạn đã có tài khoản? Hãy Đăng nhập

Tóm tắt

Số hiệu 04/2004/CT-NHNN
Loại văn bản Chỉ thị
Cơ quan Ngân hàng Nhà nước
Ngày ban hành 01/04/2004
Người ký Lê Đức Thuý
Ngày hiệu lực 27/04/2004
Tình trạng Hết hiệu lực
Thêm ghi chú
Trang chủ » Văn bản » Tài chính - Ngân hàng

Chỉ thị 04/2004/CT-NHNN về tăng cường quản lý, giám sát nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn - hiệu quả - bền vững do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành

Value copied successfully!
Số hiệu 04/2004/CT-NHNN
Loại văn bản Chỉ thị
Cơ quan Ngân hàng Nhà nước
Ngày ban hành 01/04/2004
Người ký Lê Đức Thuý
Ngày hiệu lực 27/04/2004
Tình trạng Hết hiệu lực
  • Mục lục

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 04/2004/CT-NHNN

Hà Nội, ngày 01 tháng 4 năm 2004

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ, GIÁM SÁT NHẰM ĐẢM BẢO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG AN TOÀN - HIỆU QUẢ - BỀN VỮNG

Trong thời gian qua, các tổ chức tín dụng đã có những giải pháp thiết thực trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng còn tiềm ẩn rủi ro, có những biểu hiện trở lại tình trạng bao cấp, nợ xấu vẫn tiếp tục phát sinh. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là việc chấp hành quy chế cho vay, quy định kiểm tra giám sát hoạt động của tổ chức tín dụng chưa đầy đủ. Nhiều tổ chức tín dụng chưa đảm bảo được một số chỉ tiêu an toàn tín dụng trong hoạt động, đặc biệt vấn đề cung cầu trên thị trường tín dụng chưa được tổ chức tín dụng quan tâm đúng mức.

Để giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng, không ngừng nâng cao tính an toàn - hiệu quả - bền vững trong hoạt động tín dụng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng và Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện các nội dung sau:

I. ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1. Thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các quy định của pháp luật về cho vay, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Từng tổ chức tín dụng rà soát lại việc hướng dẫn thực hiện các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với từng hình thức cấp tín dụng để kịp thời bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của ngân hàng, đồng thời đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

2. Có biện pháp triển khai thực hiện có hiệu quả chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc nâng cao chất lượng tín dụng theo nội dung Chỉ thị số 08/2003/CT-NHNN ngày 24/12/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

3. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tại Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Các tổ chức tín dụng bám sát quy định tại Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng để hướng dẫn các đơn vị thuộc hệ thống thực hiện xem xét cho vay theo nguyên tắc chủ động, linh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế của mình, nhưng phải đảm bảo an toàn và đủ căn cứ pháp lý để xử lý khi có tranh chấp. Khi xem xét cấp tín dụng cho các dự án, phương án cần lưu ý hiệu quả sử dụng vốn vay, cụ thể:

3.1. Chủ động tiếp cận chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành, địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đường lối, chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ, để phân tích, đánh giá và xác định nhu cầu vốn, trong đó có vốn tín dụng ngân hàng để xác định định hướng cho hoạt động cấp tín dụng, xác định hạn mức tín dụng cho từng mặt hàng, ngành hàng hoặc lĩnh vực đầu tư để đảm bảo an toàn và phân tán rủi ro tín dụng.

Trên cơ sở định hướng cấp tín dụng đã được xác định, các tổ chức tín dụng cần phối hợp để lựa chọn các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao để cấp tín dụng; đặc biệt là đối với các dự án sử dụng vốn lớn, có nhu cầu đồng tài trợ của nhiều tổ chức tín dụng.

3.2. Đối với phần vốn các ngân hàng thương mại đầu tư thuộc các dự án có sự tham gia cho vay của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng: các ngân hàng phải đảm bảo an toàn, hiệu quả vốn đầu tư, thu hồi đủ vốn, thực hiện đúng quy định hiện hành của pháp luật về cho vay, bảo đảm tiền vay, quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn, giảm thiểu rủi ro kỳ hạn.

3.3. Các tổ chức tín dụng thực hiện đúng quy định về cung cấp, khai thác và sử dụng thông tin tín dụng, không để xảy ra tình trạng một khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng nhưng không có sự kiểm tra, đánh giá về mức độ rủi ro.

4. Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn liên quan đến hoạt động tín dụng, tự chịu trách nhiệm về sự an toàn và hiệu quả của hoạt động tín dụng:

4.1. Tổ chức tín dụng phải chủ động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn nhằm vừa đảm bảo an toàn cho hoạt động chung, vừa bảo đảm cơ cấu nguồn vốn - sử dụng vốn hợp lý về kỳ hạn trong hoạt động tín dụng. Thực hiện giám sát và kiểm tra thường xuyên việc thực hiện các quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn.

4.2. Thực hiện phân loại tài sản Có theo mức độ rủi ro và trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định, chủ động xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh trong hoạt động tín dụng theo quy định hiện hành. Không để nợ nần dây dưa kéo dài làm giảm chất lượng tín dụng.

4.3. Có biện pháp tích cực nhằm chủ động nâng cao tỷ lệ an toàn vốn. Đối với các tổ chức tín dụng chưa đạt tỷ lệ an toàn vốn 8% phải có giải pháp cụ thể phấn đấu đưa tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có rủi ro đạt và vượt mức 8%.

4.4. Chấp hành nghiêm chỉnh quy định về giới hạn cho vay, bảo lãnh tối đa đối với một khách hàng, chủ động đề xuất các giải pháp nhằm vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của khách hàng, vừa đảm bảo an toàn, chất lượng, hiệu quả của hoạt động tín dụng.

4.5. Chấp hành nghiêm túc quy định về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Chú trọng các biện pháp đảm bảo an toàn vốn tín dụng đặc biệt là trong các trường hợp cho vay không có bảo đảm hoặc cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

5. Thực hiện rà soát, đánh giá, phân loại nợ theo nguyên nhân khó thu hồi để có biện pháp quản lý, giám sát và xử lý nợ thích hợp nhằm giảm thiểu nợ gia hạn, nợ quá hạn:

5.1. Tiến hành phân loại, đánh giá khả năng thu hồi của toàn bộ các khoản nợ đã gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn và nợ quá hạn. Trên cơ sở đó tập trung cán bộ để thu nợ, không để tình trạng nợ nần kéo dài, khách hàng có khả năng mà không tận thu để trả nợ ngân hàng; áp dụng các biện pháp để tận thu kể cả việc trích tài khoản tiền gửi để thu nợ. Kiên quyết không để nợ quá hạn mới phát sinh do nguyên nhân chủ quan.

5.2. Đối với các khoản nợ do khách hàng cố tình chây ỳ, có khả năng tài chính, có tài sản nhưng không trả nợ ngân hàng:

a. Tiến hành các thủ tục khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng, theo quy định của pháp luật;

b. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án tại địa phương để thu hồi nợ. Trường hợp tổ chức tín dụng đang quản lý tài sản nhưng chưa phát mại thì hoàn chỉnh hồ sơ, giấy tờ để có thể bán thu hồi nợ.

c. Tổng hợp báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước kết quả xử lý nợ chây ỳ theo định kỳ 6 tháng một lần.

6. Tăng cường sự phối hợp, kết hợp giữa các bộ phận trong một tổ chức tín dụng và giữa các tổ chức tín dụng trong hoạt động tín dụng để kiểm soát chặt chẽ việc chấp hành quy trình cấp tín dụng, đảm bảo theo dõi chặt chẽ các khoản vay từ lúc mới phát sinh đến khi thu hồi hết nợ vay.

II. ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ THUỘC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

1. Các đơn vị tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.1. Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, các đơn vị tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý giám sát của Ngân hàng Trung ương đối với các tổ chức tín dụng để sớm phát hiện và xử lý kịp thời những vướng mắc, kiến nghị của tổ chức tín dụng và các đơn vị liên quan, tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động tín dụng theo nguyên tắc bảo đảm an toàn - hiệu quả - bền vững, nâng cao vai trò quản lý, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

1.2. Trung tâm thông tin tín dụng phải có biện pháp cụ thể để tăng cường tổ chức và bộ máy cả về năng lực trình độ và nghiệp vụ chuyên môn, từng bước nâng cao chất lượng thông tin khách hàng cung cấp cho các tổ chức tín dụng, quy định cụ thể chặt chẽ việc phối hợp cung cấp, sử dụng, khai thác thông tin giữa Trung tâm thông tin tín dụng với các tổ chức tín dụng, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng thông tin đánh giá khách hàng cả về quy mô số lượng khách hàng và nội dung thông tin cung cấp.

1.3. Vụ Các ngân hàng nghiên cứu trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc mở rộng đối tượng xử lý nợ bằng nguồn dự phòng rủi ro theo hướng mở rộng quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động xử lý các khoản nợ tồn đọng do nguyên nhân khách quan không còn khả năng thu hồi, không thuộc đối tượng, phạm vi xử lý nợ theo các quy định của Nhà nước.

2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

2.1. Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi và phối hợp với các tổ chức tín dụng trên địa bàn để có biện pháp cụ thể nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và ngăn chặn sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.

2.2. Thực hiện việc kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện quy định của pháp luật về cho vay và cơ chế bảo đảm tiền vay, về bảo lãnh và cho thuê tài chính của tổ chức tín dụng.

2.3. Định kỳ hàng tháng tổng hợp báo cáo đầy đủ, cụ thể và kịp thời diễn biến tình hình thực hiện chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại Chỉ thị này trên địa bàn về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Tín dụng).

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Thủ trưởng các đơn vị liên quan tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.

2. Chỉ thị này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.

Trong quá trình thực hiện phát sinh vướng mắc, các đơn vị báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước để được xem xét giải quyết.

 

 

Lê Đức Thuý

(Đã ký)

 

 

Từ khóa: 04/2004/CT-NHNN Chỉ thị 04/2004/CT-NHNN Chỉ thị số 04/2004/CT-NHNN Chỉ thị 04/2004/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Chỉ thị số 04/2004/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Chỉ thị 04 2004 CT NHNN của Ngân hàng Nhà nước

THE STATE BANK OF VIETNAM
----------------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence- Freedom-Happiness
-----------------

No. 04/2004/CT-NHNN

Hanoi, April 1, 2004

 

DIRECTIVE

ON THE ENHANCEMENT OF MANAGEMENT, SUPERVISION TO ENSURE THE PRUDENCE - EFFICIENCY - SUSTAINABILITY IN THE CREDIT ACTIVITY

Credit Institutions have, in recent time, taken practical measures in the enhancement of the credit quality and have gained positive achievements. There are, however, still potential risks contained in the credit activities, signs of the return of subsidies, bad debts continue occurring. This situation has mainly resulted from the inadequate compliance with the lending regulation, provisions on the examination, supervision of credit institutions' activities; Many Credit Institutions have not yet satisfied prudential ratios for the credit activities, not paid adequate attention to the demand and supply issue in the credit market.

In order to minimize the risks in banking activities, to continuously enhance the prudence - efficiency - sustainability in credit activities, the State Bank's Governor requires the Board of Directors, General Directors (Directors) of Credit Institutions, Heads of units of the State Bank of Vietnam to implement the followings:

I. IN RESPECT OF CREDIT INSTITUTIONS

1. To fully and seriously comply with provisions of applicable laws on lending, guarantee and finance leasing. Each Credit Institution shall review its guidance of the State Bank's provisions on each form of credit extension to timely supplement, amend and make them in line with practical banking activities and ensure, at the same time, the compliance with provisions of applicable laws, enhance the examination, supervision of credit activities in order to minimize credit risks.

2. To take measures to efficiently implement the guidance of the State Bank's Governor on the enhancement of the credit quality in accordance with the Directive No. 08/2003/CT-NHNN dated 24 December, 2003 of the State Bank's Governor.

3. To seriously comply with provisions stated in the Regulation on lending by credit institutions to customers issued in conjunction with the Decision No. 1627/2001/QD-NHNN dated 31 December, 2001 of the Governor of the State Bank. Credit Institutions should base on provisions of the Regulation on lending by credit institutions to customers to provide guidance to units of their system on the assessment of the lending in the principle of initiative and flexibility and in line with their actual conditions, but the prudence and sound legality must be ensured for settlement in the event of disputes. In the consideration of credit extension to projects, plans, the efficient use of funds should be assessed, specifically as follows:

3.1. To actively approach the development strategies, schemes, plans of the industry, the province, which have been approved by the competent authorities; policies, guidelines of the social economic development of the Party and State, from time to time, to analyze, assess and determine funds requirements, including credit funds to determine the orientation of credit extension activity, the credit limit for each goods item, industry or investment sector in order to ensure the prudence and the diversification of credit risks.

On the basis of the determined credit extension orientation, credit institutions need to cooperate with each other to select investment projects, production and business plans with high efficiency to extend credits; especially to projects, which required a substantial amounts of funds and the co-financing of several credit institutions.

3.2. In respect of the funds commercial banks invest in projects with the participation in lending by organizations, which are not credit institutions: banks must ensure the prudence and efficiency of investment funds, the full recovery of funds and the compliance with current provisions of the laws on lending, loan security, provisions on prudential ratios, minimization of the maturity risks.

3.3. Credit Institutions shall seriously comply with provisions on the provision, exploitation and use of credit information, prevent the situation where a customer borrows funds from several credit institutions without any examination, assessment of the risk levels.

4. To comply with provisions on the prudence relating to credit activities, take self responsibility for the prudence and efficiency of credit activities.

4.1. Credit Institutions must actively set up a plan for the mobilization and use of funds in order to secure the safety of general activities as well as of the reasonable structure of the fund sources and their uses in terms of their maturity in the credit activities. Carry out the regular supervision and examination of the compliance with provisions on the maximum ratio of short-term funds, which can be used for extending medium, long term loans.

4.2. To carry out the classification of Assets by level of risks and make provisions for risks in accordance with applicable provisions, actively and timely deal with risks arising in credit activities under current provisions. To avoid the lingering of debts that reduces the credit quality.

4.3. To take positive measures to actively increase the ratio of capital adequacy. Credit institutions, which do not achieve the capital adequacy ratio of 8%, must have specific solutions to increase the ratio of their own capital over the risk-based assets to and more than 8%.

4.4. To strictly comply with provisions on the lending limit, the maximum guarantee for a single customer, to actively recommend solutions to timely satisfy the loan requirements of customers and secure, at the same time, the prudence, quality and efficiency of credit activities.

4.5. To strictly comply with provisions on loan security of credit institutions in accordance with provisions of Government and the guidance of the State Bank. To pay attention to measures for securing the safety of credit funds, especially for cases where the lending is made without security or with security assets created from borrowed funds.

5. To perform the verification, assessment, and classification of debts by reasons, which make their collection difficult in order to work out appropriate measures for the management, supervision and settlement of debts for the minimization of rescheduled debts and overdue debts.

5.1. To classify, assess the potential recovery of the total debts which have been rescheduled, adjusted in respect of the term and overdue debts. To concentrate officers, on this basis, to collect debts, to avoid the lingering of debts and the situation where repayable customers are not adequately pressed for repayment of bank debts; To take measures for the collection of debts, including the deduction of deposit account for debt recovery. There should be the determination to prevent new overdue debts from arising due to subjective reasons.

5.2. In respect of debts which customers, who are financially capable or have assets but intentionally refuses to repay debts of banks:

a. To complete procedures to initiate a court suit against customers, who violate the credit agreement in accordance with provisions of applicable laws;

b. To closely coordinate with the court judgment execution authority in the locality to collect debts. In case where credit institutions manage assets but do not yet put them on sale, they should complete files, documents to sell them for debt recovery.

c. To consolidate and report to the State Bank's Governor on the settlement result for deferred debt on the six-month basis.

6. To enhance the coordination, combination between units within a credit institution and between credit institutions in their credit activity to strictly control the compliance with the credit extension procedure, to ensure the strict monitoring of loans from their origination to the complete collection.

II. IN RESPECT OF UNITS OF THE STATE BANK OF VIETNAM

1. For units at the Head office of the State Bank of Vietnam

1.1. Within the scope of their function and assignment, units at the Head office of the State Bank of Vietnam should well perform the supervisory function, assignment of the Central Bank vis--vis credit institutions to early discover and timely deal with obstacles, recommendations of credit institutions and related units, facilitate the credit activity on the principle of prudence- efficiency - sustainability, to enhance the supervisory and managerial role of the State Bank of Vietnam.

1.2. The Credit Information Center should take specific measures to intensify its organization and apparatus in terms of the capacity and professional knowledge, to increase, step by step, the quality of customer information, which are to provide to credit institutions, to specifically and strictly stipulate the coordination in the provision, use, exploitation of information between the Credit Information Center and credit institutions, where the increase of the quality of customer assessment information, both in terms of the number of customer quantity and the content of information, which are provided, should be focused on.

1.3. The Banks Department should study and submit to the State Bank's Governor on the expansion of debts, which could be written down or off with the risk provisions in the direction of the increase of the autonomy and self-responsibility of credit institutions, to facilitate credit institutions' active dealing with lingering debts, which can not be collected due to objective reasons, and are not within those debts, which can be settled in accordance with current provisions of the State.

2. Branches of the State Bank of Vietnam in provinces, cities under the central Government's management

2.1. General Managers of branches of the State Bank of Vietnam in provinces, cities under the central Government's management should regularly follow up and coordinate with local credit institutions to have specific measures to enhance the autonomy, the self-responsibility in the business activity of credit institutions and to prevent unhealthy competition between credit institutions.

2.2. To carry out the verification, supervision of the compliance with provisions of the applicable laws on the lending and the regime of loan security, on the guarantee and finance leasing made by credit institutions.

2.3. To consolidate and fully, specifically and timely report to the State Bank of Vietnam (Credit Department) on the performance by local credit institutions of the implementation of the directive of the State Bank's Governor stated in this Directive on monthly basis.

III. ORGANIZATION OF THE IMPLEMENTATION

1. Heads of related units at the Head office of the State Bank of Vietnam, the Board of Directors, General Directors (Directors) of Credit Institutions, General Managers of branches of the State Bank of Vietnam in provinces, cities under the central Government's management and related units shall be responsible for the serious implementation of this Directive.

2. This Directive shall be effective after 15 days from its publication in the Official Gazette.

Any obstacle which may arise during the implementation shall be reported by units to the State Bank's Governor for consideration and solution.

 

 

THE GOVERNOR OF THE STATE BANK




Le Duc Thuy

 

---------------

This document is handled by Dữ Liệu Pháp Luật . Document reference purposes only. Any comments, please send to email: [email protected]

Văn bản gốc đang được cập nhật.

Được hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Bị hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đình chỉ () Xem thêm Ẩn bớt

Bị đinh chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Bị quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bị bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Được sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Được đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Bị thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Được điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Được dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản hiện tại

Số hiệu 04/2004/CT-NHNN
Loại văn bản Chỉ thị
Cơ quan Ngân hàng Nhà nước
Ngày ban hành 01/04/2004
Người ký Lê Đức Thuý
Ngày hiệu lực 27/04/2004
Tình trạng Hết hiệu lực

Hướng dẫn () Xem thêm Ẩn bớt

Hủy bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Bổ sung () Xem thêm Ẩn bớt

Đình chỉ 1 phần () Xem thêm Ẩn bớt

Quy định hết hiệu lực () Xem thêm Ẩn bớt

Bãi bỏ () Xem thêm Ẩn bớt

Sửa đổi () Xem thêm Ẩn bớt

Đính chính () Xem thêm Ẩn bớt

Thay thế () Xem thêm Ẩn bớt

Điều chỉnh () Xem thêm Ẩn bớt

Dẫn chiếu () Xem thêm Ẩn bớt

Văn bản gốc đang được cập nhật

Văn bản Tiếng Việt đang được cập nhật

Tin liên quan

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Bản án liên quan

  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

Mục lục

CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ VINASECO

Trụ sở: Số 19 ngõ 174 Trần Vỹ, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 088 66 55 213 - Email: [email protected]

ĐKKD: 0109181523 do Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội cấp ngày 14/05/2020

Sơ đồ WebSite

Hướng dẫn

Xem văn bản Sửa đổi

Điểm này được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017

Xem văn bản Sửa đổi